Nho Giáo ở Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc - Việt Nam

Được đăng ngày Thứ tư, 25 Tháng 10 2017 11:27

NHO GIÁO Ở TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM

Đây là bài viết khá thú vị về Nho giáo ở bốn nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên-Hàn Quốc. Bài này vốn là tham luận của giáo sư Tsuboi Yoshiharu đọc tại Hội nghị quốc tế về Nho giáo lần thứ 2 tổ chức tại Yokohama(Nhật Bản) tháng 2/1991. Giáo sư Tsuboi, tiến sĩ chính trị học, giáo sư Đại học Hokkaido(Nhật Bản),là tác giả một số cuốn sách được nhiều người biết đến như: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (đã dịch ra tiếng Việt),Việt Nam- đêm trước của sự giàu có…Bản tham luận này được in trong tập sách kỷ yếu hội nghị có tên là Lịch sử và tương lai của khu vực văn hóa chữ Hán (Tiếng Nhật. Đại tu quán thư điếm xuất bản. Tokyo 1992).

  GS. Tsuboi Yoshiharu

Trước nay khi nói đến Nho giáo, người ta thường hay nhắc đến Nho giáo ở 3 nước: Trung Quốc, Hàn Quốc -Triều Tiên và Nhật Bản. Trong bài viết này chúng tôi xin mở rộng thêm một chút, đưaViệt Nam vào để thử so sánh Nho giáo của bốn nước Trung, Nhật, Hàn, Việt.

Không chỉ Nho giáo, chúng tôi xin đưa cả những dữ liệu lịch sử, văn hóa khác  liên quan đến Nho giáo để khảo sát.

Trước hết làvấn đề văn tự. Bán đảo Triều Tiên, Việt Nam và cả Nhật Bản đều có chữ viết chính thức kể từ khi có chữ Hán từ Trung Quốc truyền vào. Sau đó qua nhiều thế kỉ, các dân tộc lần lượt “ bản địa hóa” chữ Hán bằng phương pháp riêng  để xây dựng chữ viết của dân tộc mình.

Nhật Bản là nước thử nghiệm trước tiên. Từ thế kỷ VII người Nhật đã có loại chữ phiên âm loại gọi là Manyogana (Vạn diệp giả danh – loại chữ dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Nhật – ND). Nhờ có vị trí địa lý cách biển khá xa Trung Quốc nên Nhật Bản có điều kiện thuận tiện để hình thành từ sớm nền văn hóa riêng của mình, độc lập với văn minh Trung Quốc.

Bán đảo Triều Tiên và Việt Nam ở lục địa nên chịu ảnh hưởng Trung Quốc mạnh hơn, lâu dài hơn cả về mặt chính trị lẫn văn hóa. Triều Tiên có được nền độc lập vào khoảng cuối thế kỷ IV, còn Việt Nam thì mãi đến giữa thế kỷ X mới giành được độc lập(năm 938). Khoảng thế kỉ thứ IX, Nhật Bản đã phát minh ra chữ Hiragana và Katakana bằng cách đơn giản hóa chữ Hán để ghi âm tiếng Nhật. Triều Tiên thì vào khoảng cuối thế kỉ  XIV  dòng họ Lý lên nắm chính quyền(năm 1392). Vào đời vua thứ tư của dòng họ này – Lý Thế Tổ ( 1418-1450)- là thời hoàng kim của văn hóa Triều Tiên. Thành quả quan trọng của thời đại này là sự ra đời của chữ Hanguru, gồm 28 mẫu tự để ghi âm tiếng Triều Tiên. Ở Việt Nam, cùng thời với sự ra đời của chữ Hanguru Triều Tiên, khoảng thế kỷ XIV, người Việt Nam cũng phát minh ra văn tự dân tộc gọi là chữ Nôm. Chữ Nôm được hoàn chỉnh ở thế kỷ XV, vào triều đại nhà Lê. Cách tạo ra chữ Nôm cũng tương tự như cách tạo ra “Quốc tự” Nhật Bản, nghĩa là bằng cách tổng hợp lại chữ Hán. Cách này khá phức tạp, vì vậy chữ Nôm chỉ được sử dụng trong phạm vi một số ít trí thức, chứ không phổ cập rộng rãi được trong dân chúng.

Hiện nay Nhật Bản sử dụng hỗn hợp cả 3 loại chữ viết: chữ Hán (Kanji)chữHiragana, và chữ Katakana. Còn Đại Hàn dân quốc chỉ sử dụng chữ Hanguruvà có khuynh hướng tránh dùng chữ Hán. Trung Quốc thì sử dụng chữ Hán giản thể để dễ dàng phổ cập rộng rãi trong dân chúng( từ sau khi nước cộng hòa Trung Hoa ra đời năm 1949).

Như vậy Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã không dùng chữ Hán nguyên dạng như hồi xưa nữa, mà thay đổi đi khá nhiều,hoặc là đã tạo ra loại văn tự riêng.Điều ấy dẫn đến tình trạng không thể bút đàm giữa 3 nước này như ngày xưa được nữa,ngoài  tình trạng phát âm chữ Hán khác nhau.

Còn ở Việt Nam, vào thập kỷ10 của thế kỷ XX đã bãi bỏ khoa cử, đồng thời bỏ luôn việc dùng chữ Hán.Từ đó đến nay chữ viết tiếng Việt đã được “La-tinh hóa” thay cho chữ Nôm, và loại chữ viết đó đã được sử dụng  làm chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ Việt Nam được các giáo sĩ Dòng Tên tạo ra từ thế kỷ XVII và được nhà truyền giáo người Pháp là Alexandre De Rhodes hoàn chỉnh. Chữ Quốc ngữ sử dụng chữ La- tinh có thêm một số kí hiệu riêng ở nguyên âm để phân biệt sáu thanh điệu. Trong một thời gian dài chữ Quốc ngữ chỉ được sử dụng trong một bộ phận giáo dân Thiên chúa giáo, nhưng sau khi đặt được ách đô hộ thực dân, với ý đồ cắt đứt Việt Nam ra khỏi mối liên hệ với tư tưởng Nho giáo và thay vào đó là phổ cập tư tưởng Thiên chúa giáo, người Pháp đã loại bỏ chữ Hán và chọn dùng chữ Quốc ngữ. Trên 70 năm nay, những người Việt Nam  đọc và viết được chữ Hán chỉ còn là người Việt gốc Hoa hoặc là một số ít người già. Còn những người Việt Nam bình thường khác thì dường như không sử dụng chữ Hán nữa.

Bốn nước Trung Quốc, Nhật Bản , Hàn Quốc, Việt Nam trong lịch sử không chỉ giống nhau về việc sử dụng chữ Hán mà còn giống nhau ở chỗ cùng chịu ảnh hưởng Nho giáo và Phật giáo Đại thừa. Trong lịch sử mỗi nước, có lúc Phật giáo hưng thịnh, có lúc Nho giáo chi phối mạnh mẽ, không phải lúc nào cũng giống nhau. Tuy nhiên khi Chu tử học được xác lập và truyền bá rộng rãi thì tình trạng Phật giáo, Nho giáo cùng tồn tại như buổi đầu cũng mất đi. Tống nho đề xướng thuyết “ Bài phật luận” , đã biến Nho giáo thành học thuyết thống trị và coi Phật giáo chỉ  là dị đoan.

Triều Tiên từ thời Lý (cuối thế kỉ XIV) , Nhật Bản từ thời Mạc phủ Tokugawa (đầu thế kỉ XVII) đã chịu sự chi phối của Nho giáo. Việt Nam vào thời Lê Thánh Tông ( nửa cuối thế kỉ thứ XV) đã xây dựng nhà nước Nho giáo theo kiểu Tống nho. Sau khi Lê Thánh Tông mất một thời gian, từ thế kỉ XVI  đến cuối thế kỉ XVIII Việt Nam bị  chia ra làm hai miền Nam Bắc( gọi là Nam- Bắc triều và Trịnh- Nguyễn phân tranh). Đến đầu thế kỉ XIX, khi nhà Nguyễn ra đời thì nhà nước Nho giáo mới dần dần được xây dựng lại.

Hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào so sánh mối quan hệ giữa Nho giáo và Phật giáo ở 4 nước này, ở đây tôi xin đưa ra một số ví dụ có liên quan.

Khi nói từ “arigato” (cảm ơn), thì ở Hàn Quốc nói “Kamusa (hamunida)”, ở Trung Quốc nói “ Shie – shie”, còn ở Việt Nam là “ Kamu-on” ( cảm ơn)

Phát âm những ký tự La tinh là rất khó hiểu đối với chúng ta, nhưng nếu viết bằng chữ Hán thì lại hết sức dể hiểu : “ Kamusa” là “ cảm tạ” , “ Shie- shie” là “tạ tạ” và “ Kamu-on” là “cảm ân”. Những từ này cho thấy ở Việt Nam Phật giáo ảnh hưởng rất sâu sắc, phổ cập đến cả sinh hoạt hàng ngày.

So sánh Nho giáo Trung, Nhật, Hàn, Việt không phải là so sánh những điểm khác nhau về lịch sử-xã hội, nhưng ở đây chúng tôi thấy cần thiết phải đưa ra một số điểm về lịch sử mà trước nay ít được chú ý đến.

Điểm thứ nhất: Sự tấn công của phương Tây vào khu vực này và thái độ của triều đình hay Mạc phủ. Việc một vương triều nào đó có thời gian thống trị lâu dài, tuy không hẳn có ý nghĩa đảm bảo cho đất nước ấy có nền kinh tế phồn thịnh, nhưng chắc chắn có ý nghĩa ổn định chính trị và giúp cho tư tưởng chín muồi.

Nhà Lý tồn tại lâu nhất, đến 500 năm(1392-1910). Nhà Thanh Trung Quốc(1616-1912)và Mạc phủ Tokugawa Nhật Bản(1603-1867) tồn tại gần như bằng nhau, khoảng260-300 năm. Còn ở Việt Nam, nhà Nguyễn tồn tại ngắn nhất ( so với các triều đại trên), chỉ khoảng trên 80 năm (1802-1885) nên không có đủ thời gian cho sự phát triển chín muồi tư tưởng Nho giáo riêng của mình như Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản.

Vấn đề này tất nhiên phải nghiên cứu một cách cẩn trọng trên cơ sở tư liệu đầy đủ hơn ở các thư viện, các tàng thư…, nhưng có thể thấy ở thời Lý Triều Tiên đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn như Lý Thoái Khê (1501-1570), Lý Lật Cốc(1536-1584), ở thời Tokugawa Nhật Bản thì có Itô Ninsai (Y Đằng Nhân Trai, 1627-1705), Ogiyu Sorai ( Địch Sinh Tồ Lai, 1666-1728)và nhiều nhà tư tưởng đặc sắc khác nữa. Còn ở Việt Nam, mặc dầu có thi hào Nguyễn Du ( 1766-1820), nhưng lại không có nhà tư tưởng lớn nào. Điều này tôi nghĩ, có liên quan đến sự ổn định chính trị với một vương triều tồn tại lâu dài.

Điểm thứ hai: Tầng lớp xã hội đảm đương Nho học. Ở điểm này Nhật Bản có sự khác biệt rất lớn so với 3 nước còn lại trong khu vực. Ở Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam có chế độ khoa cử,  nên Nho giáo trở thành kiến thức giáo khoa để đi thi.

Ở Trung Quốc, người đảm trách Nho giáo là người có học, họ là kẻ sĩ làng quê hoặc quan lại. Ở thời Lý Triều Tiên, đó là tầng lớp ưu tú gọi là “lưỡng ban”. Ở thời Nguyễn Việt Nam, đó là tầng lớp quan lại hoặc văn thân tương tự như kẻ sĩ làng quê ở Trung Quốc. Còn ở Nhật Bản, người đảm trách Nho giáo là những chuyên gia nghiên cứu Nho học và những võ sĩ tìm đến Nho giáo như là môn học về luân lý cá nhân. Người đảm trách Nho giáo khác nhau, nên vai trò xã hội của Nho giáo cũng khác nhau.

Bối cảnh xã hội, lịch sử có sự khác biệt, bản thân điều ấy đã nói được khá rõ về sự khác nhau giữa các nước này. Thế giới Đông Á chịu ảnh hưởng có tính chất áp đảo từ Trung Quốc. Lực áp đảo này ở thời hiện tại vẫn còn, nhưng trong quá khứ thì hết sức mạnh mẽ.

Ảnh hưởng áp đảo của Trung Quốc do 4 nguyên nhân chủ yếu sau:

Lấy ví dụ về cách đặt tên của các nước trong khu vực. Có ý thức hay không có ý thức, nhưng các nước đều cảm nhận rất rõ về sự tồn tại của Trung Quốc. “ Nhật Bản” là nơi mặt trời mọc so với Trung Quốc như đã được quan niệm trong bức thư của Thánh Đức Thái tử gửi cho sứ thần nhà Tùy  Trung Quốc (tk.VII) : “Thiên tử xứ mặt trời mọc gửi cho Thiên tử xứ mặt trời lặn”. Triều Nguyễn Việt Nam xưng là “Đại Nam quốc” để chứng tỏ là quốc gia độc lập, nhưng đồng thời cũng thể hiện ý thức mình ở phía nam Trung Quốc và đối kháng lại Trung Quốc ( dùng chữ “ Đại”). Nước “Ran-san” ở Lào đặt tên nước là “Vạn Tượng quốc” rất có thể có ngầm ý đối kháng Trung Quốc, không thể bị Trung Quốc xâm lược một cách dễ dàng.

Nguyên nhân dẫn đến sự uy hiếp thường xuyên này từ phía Trung Quốc là vì Việt Nam cũng như Triều Tiên tiếp giáp với Trung Quốc trên lục địa chứ không cách biển như Nhật Bản. Khi tiếp giáp với biên giới Trung Quốc thì tùy thuộc vào khoảng cách xa gần với kinh đô- trung tâm quyền lực của Trung Quốc mà mức độ nguy hiểm đối với từng nước cũng có khác nhau ít nhiều. Vào thời Thanh, Triều Tiên bị Trung Quốc khống chế mạnh hơn vì Triều Tiên gần Bắc Kinh hơn. Trên quan điểm bảo vệ quốc gia thì Triều Tiên là quan trọng hơn. Nhưng về xâm lược và chiếm lãnh, thì Việt Nam bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, chiếm linh lâu dài hơn. Cho đến giữa thế kỷ X, Việt Nam vẫn là thuộc quốc, chịu sự chi phối của Trung Quốc. Sau khi    giành được độc lập(tk.X), Việt Nam vẫn bị các vương triều Tống,Nguyên,Minh,Thanh thay nhau xâm lược. Nhà Minh chiếm lĩnh, đô hộ trực tiếp gần 20 năm. Cuối cùng thì do bị phản kháng bằng vũ lực, quân Trung Quốc buộc phải rút lui, và Việt Nam đã khôi phục lại nền độc lập.

Còn Triều Tiên, từ sau khi giành được độc lập vào thế kỷ IV,mặc dù vẫn chịu sự khống chế từ phía Trung Quốc, nhưng không bị chiếm đóng trong thời gian dài như Việt Nam.

Từ quan điểm này, khi nghiên cứu so sánh Việt Nam và bán đảo Triều Tiên chắc chắn sẽ có nhiều phát hiện mới. Hội thảo quốc tế lần này hy vọng sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển giao lưu giữa các nhà nghiên cứu Triều Tiên và Việt Nam.

Từ những tiền đề trên có thể rút ra vài lời có tính chất như “ từ chìa khóa” ( keyword) để hiểu đặc trưng về Nho giáo của từng nước. Dưới đây tôi xin đưa ra vài ý có tính chất giả thuyết.

Trong các đức mục Nho giáo thì đứng đầu là chữ HIẾU. Đối với đức mục này, nếu so sánh về mức độ đậm nhạt giữa các nước thì không đâu đề cao chữ HIẾU bằng Trung Quốc.Theo giải thích của giáo sư Gia Địa Thân Hành (Kaji  Nobuyuki?) trong sách Nho giáo là gì (Trung công tân thư-989,xb.1990) thì HIẾU không chỉ bó hẹp trong phạm vi hiếu với cha mẹ một cách đơn giản, mà nó có ý nghĩa rất rộng bao gồm cả những lợi ích trong cuộc sống như Phúc Lộc Thọ (đông con, nhiều tiền, sống lâu) chẳng hạn.

Đặc trưng của Nhật Bản là chữ TRUNG. Từ thời Tokugawa trở đi, TRUNG với ý nghĩa là“lòng trung thành” rất được nhấn mạnh trong tinh thần võ sĩ đạo. Hiện nay lòng trung thành với công ty là đạo đức Nho giáo mà xã hội Nhật Bản rất chú trọng và cho là phải  giữ gìn.

Ở Việt Nam thì đề cao chữ NGHĨA. Xin giới thiệu hai ví dụ:

– Thứ nhất là so sánh chủ nghĩa xã hội ở Cu Ba và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ta thấy có điều rất thú vị : Cuộc cách mạng XHCN của Che Ghevara và Fidel Castro dùng cách nói là “sự phản nghịch chính đáng”. Nhưng những người cộng sản Việt Nam thì chủ trương rằng: phản nghịch là hành động của bọn thực dân, bọn khủng bố, còn bản thân mình thì chiến đấu vì chính nghĩa. Trong các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thực hiện chính nghĩa như thế nào, mặc dù có tư tưởng mac-xit, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh lại thường quay về với các mô-típ gần như nguyên vẹn của Nho giáo.

– Thứ hai là so sánh với Nhật Bản. Từ năm 1883 đến cuối thế kỷ XIX (khoảng hơn 10 năm) ở Việt Nam có phong trào Cần vương. Lúc ấy ông vua thực tế đã trở thành bù nhìn. Ông vua đề cao lòng trung thành đã bị bắt. Ở Nhật Bản việc đề cao chữ TRUNG thường phải gắn liền với một ông vua tồn tại thực. Nhưng ở Việt Nam lúc bấy giờ chuyện ấy không có, nên chữ TRUNG không thể phát huy tác dụng thúc đẩy cuộc kháng chiến. Vì thế người ta đề cao chữ NGHĨA một cách thường xuyên và phổ biến hơn. Hơn nữa người chịu trách nhiệm về chữ TRUNG ở Việt Nam là người có học(quan lại và văn thân), nên khái niệm TRUNG chỉ giới hạn trong quan hệ giữa tầng lớp lãnh đạo đối với nhà vua, rất khó thâm nhập vào được sâu trong dân chúng.

Trên bối cảnh như vậy thì có thể cho rằng Việt Nam đề cao chữ NGHĨA là thích hợp nhất.

Vấn đề khó khăn nhất là trường hợp Triều Tiên – Hàn Quốc. Trong suốt lịch sử Nho giáo triều Lý kéo dài 500năm, có nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau nên khó có thể nói gọn lại bằng một từ đơn giản. Không có đức mục nào thật gây ấn tượng, nhưng cũng có thể thấy trong nhiều trường hợp người Triều Tiên có vẻ biểu hiện tính triệt để về tư tương, tính thuần túy, nghiêm túc, nghiêm khắc trong đấu tranh.Điều ấy khiến người ta có cảm giác như một chất khác lạ so với đạo đức Nho giáo ở 3 nước kia. Rút ra một từ thì hết sức khó khăn nhưng có thể nói là chữ CHÍNH trong “ phò chính trừ gian” hoặc chữ DANH trong “ danh phận”, hay chữ THUẦN trong “ thuần túy” được chăng? Điều này còn rất mơ hồ xin các vị độc giả, các vị giáo sư chỉ giáo cho.

Như vậy nếu nói gọn lại bằng một từ đặc trưng về Nho giáo ở 4 nước Trung, Nhật, Việt, Hàn, thì có thể nói làHIẾU, TRUNG,NGHĨA, THUẦN(hay CHÍNH, DANH)được chăng? Việc thảo luận, so sánh những nội dung này biết đâu lại có thể thấy nổi lên nhiều khía cạnh khác nữa. Từ suy nghĩ đó tôi  xin mạnh dạn đưa ra giả thuyết như trên.

Nguồn: Lịch sử và tương lai của khu vực văn hóa  chữ Hán.Bản tiếng Nhật. Nhiều tác giả. Đại tu quán thư điếm xuất bản. Tokyo 1992